Ian Brodie Rated 5 / 5 based on 5 reviews

Top 10 mẫu đồng hồ đeo tay sở hữu kỹ thuật phức tạp (Phần 2)

0
comments
1 tháng trước

Tiếp nối phần 1, phần 2 sẽ liệt kê 5 mẫu đồng hồ đeo tay sở hữu kỹ thuật hiện đại bậc nhất thế giới. Sự xuất hiện của những chiếc đồng hồ này đã thể hiện khả năng sáng tạo không giới hạn của con người.

Diễn đàn Từ điển đồng hồ

Đồng hồ báo lịch

8

 Ra mắt vào năm 1945, Rolex Datejust là chiếc đồng hồ đeo tay đầu tiên có hiển thị lịch ngày

Bên cạnh chỉ báo giờ giấc, sự bổ sung quan trọng cho đồng hồ là lịch ngày. Việc thêm cơ chế lịch vạn niên cho chiếc đồng hồ đã đảm bảo đầy đủ chức năng cơ bản.

Ra mắt vào năm 1945, Rolex Datejust là chiếc đồng hồ đeo tay đầu tiên có hiển thị lịch ngày. Phiên bản này nổi bật với một đĩa báo ngày với các con số báo màu đỏ xen kẽ màu đen, và được trang bị vành bezel khía đồng xu cùng mặt số Pie-pan. Vành bezel dạng đồng xu sau đó được cải tiến và phát triển thành trang bị mà ngày nay chúng ta thường gọi với cái tên “Rolex Fluted Bezel”. Tuy nhiên, có lẽ sự thay đổi lớn nhất là vào năm 1954 với sự ra đời của ống kính Cyclops. Một ống kính có khả năng phóng đại giúp việc đọc ngày trở nên dễ dàng hơn và cũng trở thành một đặc trưng của Rolex.

Rolex Datejust ban đầu ra mắt với kích thước 36mm và được duy trì kích cỡ này trong hơn 60 năm. Tại Baselworld 2009, Rolex đã ra mắt Datejust II với bộ máy được cập nhật cùng kích thước vỏ 41mm để phù hợp với thị hiếu đương đại. 

Tất nhiên, với chức năng lịch vạn niên thì Patek Philippe, ông trùm của sự phức tạp chính là thương hiệu đầu tiên tung ra đồng hồ có chức năng này. Hãng đã liên tục ra mắt những chiếc đồng hồ đeo tay sử dụng bộ máy lịch vạn niên phức tạp, có trong đồng hồ kiểu dáng mặt dây chuyền và biến đổi, đặt trong đồng hồ đeo tay. Patek Philippe kể từ đó đã tiếp tục tạo nhiều đồng hồ đeo tay lịch vạn niên đáng chú ý. Kể từ khi Patek Philippe giới thiệu chiếc đồng hồ lịch vạn niên đầu tiên, nhiều thương hiệu khác đã tạo ra đồng hồ có chức năng tương tự. 

9

 Vào năm 1985, IWC đã khiến thế giới ngạc nhiên khi ra mắt mẫu đồng hồ Da Vinci (ref. 3750), chiếc đồng hồ lịch vạn niên được bán rộng rãi nhất trong lịch sử

Tuy nhiên, vào năm 1985, IWC đã khiến thế giới ngạc nhiên khi ra mắt mẫu đồng hồ Da Vinci (ref. 3750), chiếc đồng hồ lịch vạn niên được bán rộng rãi nhất trong lịch sử. Da Vinci không chỉ có một số tính năng độc đáo mà còn có giá retail bằng một nửa giá của đối thủ cạnh tranh.

Thông thường, đồng hồ đeo tay có chức năng lịch vạn niên có nhiều chức năng và được điều chỉnh bởi những nút bấm riêng lẻ, rất khó khăn. Với mẫu đồng hồ Da Vinci, tất cả các chức năng đều được tinh chỉnh một cách khéo léo và có thể dễ dàng thiết lập chỉ bằng núm điều chỉnh, một phát kiến mang tính cách mạng và là một trong những lý do khiến phiên bản này trở nên phổ biến.

Đồng hồ kháng từ 

Từ trường là một trong những nguyên nhân chính gây ra sự thiếu chính xác trong đồng hồ và ngày nay từ trường có ở khắp mọi nơi.

10

 Omega đã thông báo về sự xuất hiện của một chiếc đồng hồ kháng từ cải tiến tại Baselworld 2013

Do hai lò xo mỏng manh bên trong đồng hồ cơ - thuật ngữ chuyên ngành gọi là dây tóc - bị ảnh hưởng bởi từ tính và gây ra sự tàn phá tới bộ đếm thời gian của đồng hồ. Đồng hồ rất dễ bị hư hỏng khi được sở hữu bởi chủ nhân là những người thường xuyên đi du lịch hoặc làm việc ở một số lĩnh vực đặc thù như ngành y khoa hoặc nghiên cứu khoa học.

Khi từ trường đã trở nên phổ biến hơn trong cuộc sống thường nhật, đồng hồ kháng từ vẫn là một đối tượng được nghiên cứu tích cực, Omega đã thông báo về sự xuất hiện của một chiếc đồng hồ kháng từ cải tiến tại Baselworld 2013. Trước tiên, hãy cùng dạo qua những tiến bộ trong lịch sử đồng hồ chống từ.

Các Vacheron Constantin là một trong những nhà sản xuất đầu tiên thử nghiệm đồng hồ chống từ vào giữa thế kỷ XIX và tạo ra một chiếc đồng hồ có thể chịu được từ trường bằng cách sử dụng palladium để chế tạo bánh xe cân bằng, dây tóc cân bằng và trục đòn bẩy. Năm 1933, các trang bị tương tự đã được Tissot sử dụng trong chiếc đồng hồ đeo tay chống từ được sản xuất hàng loạt đầu tiên. Antimagnetique có khả năng giảm nhiễu từ tính bằng cách sử dụng palladium trong bộ thoát.

IWC ra mắt đồng hồ Schauffhausen Pilot Mark 11 vào năm 1948, đây phiên bản đầu tiên sử dụng vòng đệm sắt bên trong bộ vỏ, đóng vai trò như một vòng Faraday để che chắn bộ máy hiệu quả khỏi nhiễu từ bằng cách cung cấp một lối dẫn cho từ trường chạy quanh, hơn là xâm nhập vào bộ máy. Rolex cũng sử dụng phát minh này với chiếc đồng hồ chống từ 1000 gauss đầu tiên “Milgauss” của hãng ra mắt năm 1954. Bạn có thể dễ dàng nhận dạng chiếc đồng hồ này thông qua kim giây hình tia sét. Phiên bản này đã được hồi sinh vào năm 2007.

Ngay sau chiếc Milgauss đầu tiên, vào năm 1955, IWC đã cạnh tranh bằng dòng đồng hồ Ingnieur có sử dụng tấm che chắn bên trong từ đồng hồ Pilot trước đó, đây là tiền thân của Ingenieur 500.000 A/M được ra mắt năm 1989, có khả năng kháng từ gấp 6 lần Milgauss.

Năm 1957, Omega đã ra mắt chiếc đồng hồ Railmaster có bộ vỏ, mặt số, bộ máy cùng “vỏ bụi” được chế tạo đặc biệt bằng chất liệu có khả năng chống lại ảnh hưởng từ tính. Bộ máy của Railmaster được hoàn thiện bằng đồng và được bảo vệ bởi vỏ kép đặc biệt với vỏ khung thép đi kèm “vỏ bụi” bằng thép - đây là phiên bản kháng từ 1000 gauss đầu tiên của Omega. Chính cỗ máy máy dẫn chúng ta đến thông báo của Omega về việc phát triển đồng hồ Seamaster Aqua Terra 15.000 gauss.

11

 Rolex đã ra mắt phiên bản đồng hồ chống từ 1000 gauss đầu tiên “Milgauss” của hãng vào năm 1954

Phiên bản đồng hồ này là tiến bộ mới nhất trong dòng đồng hồ kháng từ. Thay vì cố gắng cải thiện hệ thống kháng từ cổ điển với bộ vỏ chưa hoàn thiện, Omega đã đưa ra giải pháp chế tạo một bộ máy có các trang bị không chứa sắt để bản thân bộ máy này có thể chống lại từ trường. Omega đã chế tạo sẵn một số trang bị không từ tính như dây tóc cân bằng làm từ silicon và bánh xe cân bằng bằng photpho niken cùng được tích hợp trong thiết kế mới. Omega đã đảm bảo tất cả các phiên bản đồng hồ của họ được trang bị bộ máy chống từ vào năm 2017.

Đồng hồ chronograph automatic

12

 Năm 1969 là năm đánh dấu đồng hồ chronograph automatic ra đời

Mặc dù bộ máy automatic và đồng hồ chronograph đã được tạo ra từ lâu nhưng phải mất một thời gian dài để hai cơ chế này được tích hợp trong cùng một thiết kế. Nguyên nhân là do những khó khăn kỹ thuật mà sự kết hợp có thể gây ra - một trong những điều khiến tất cả những nhà sản xuất bộ máy đồng hồ giàu kinh nghiệm nhất sợ hãi. Động lực cho việc tạo ra đồng hồ chronograph tự động đầu tiên được thúc đẩy bởi sự suy thoái của đồng hồ chronograph lên dây cót tay và sự xuất hiện của đồng hồ quartz. Hơn nữa, sự phổ biến và doanh số của đồng hồ tự động ngày càng tăng, khiến cho nhiệm vụ sản xuất đồng hồ mới của các nhà sản xuất trở nên vô cùng cấp bách.

Năm 1969 là năm đánh dấu đồng hồ chronograph automatic ra đời, tạo ra cuộc đua thu hút nhiều nhà sản xuất đồng hồ như: An Heuer, Breitling, Hamilton-Buren, sự kết hợp của Dubois-Depraz trong việc phát triển Caliber 11 hay “Chronomatic” và sau đó có ZenithMovado lựa chọn hợp tác với nhau, trong khi Seiko chọn cách đi một mình. Xác định ai là người chiến thắng trong cuộc đua này không phải là một nhiệm vụ dễ dàng vì điều này gây ảnh hưởng đến địa vị của các thương hiệu đồng hồ đứng đầu. Và trong cuộc đua đó, Zenith đã bứt phá với cỗ máy El Primero.

Vào tháng 1 năm 1969, Zenith đã đưa ra thông báo đầu tiên và ra mắt bộ máy El Primero nguyên mẫu tại cuộc họp báo quan trọng diễn ra ở Thụy Sĩ. Thế nhưng, cỗ máy El Primero đã không đi vào sản xuất cho đến tháng 10 năm đó. Trong khi đó, nhóm phát triển Caliber 11 lại đưa ra các thông báo cao cấp với các cuộc họp báo ở Geneva, tại tòa nhà Pa-Am ở New York vào tháng 3 và Chronomatic đã được đưa vào sản xuất từ tháng 8 cùng năm.

Seiko tuyên bố họ đã bắt đầu sản xuất đồng hồ chronograph automatic ref. 6139 cho thị trường Nhật Bản từ tháng 5 năm 1969. Các số seri trên đồng hồ đã cho biết thời gian sản xuất là vào tháng 3 năm 1969, việc những mẫu đồng hồ này có phải là phiên bản được sản xuất theo nguyên mẫu hay không vẫn còn là một bí ẩn. Bởi Seiko không hề đề cập đến ref. 6139 trong cuốn sách “Hành trình thời gian” ghi lại lịch sử sản xuất đồng hồ của hãng này và họ cũng không tham dự Baselworld 1969 khiến cho cuộc tranh luận ai là người đầu tiên sản xuất ra đồng hồ chronograph automatic vẫn còn tiếp tục.

Về mặt kỹ thuật: Chronomatic được chế tạo như một bộ máy chronograph mô-đun trong khi Zenith và Seiko lại tích hợp toàn bộ các cơ chế. El Primero mỏng hơn và chính xác hơn so với Chronomatic do chuyển động với tần suất 36.000vph nhanh hơn, giúp kéo dài tuổi thọ bộ máy. Đồng hồ chronograph ref. 6139 là phiên bản sớm nhất được gọi với cái tên “Speed Timers” với bộ đếm 30 phút và một ô cửa báo ngày ở vị trí 3 giờ. Viền ngoài màu xanh đỏ được đánh dấu bằng thang đo tachymeter và vành bezel xoay được đánh dấu phút trôi qua.

13

 Về mặt kỹ thuật: Chronomatic được chế tạo như một bộ máy chronograph mô-đun trong khi Zenith và Seiko lại tích hợp toàn bộ các cơ chế

Các nhà sản xuất đồng hồ đã tiếp tục phát triển Chronomatic trong 10 năm tiếp theo cho đến khi bộ máy này bị sụp đổ do sự xuất hiện của đồng hồ quartz hiệu quả hơn. El Primero đã không bị kết cục tương tự nhờ một thợ sửa đồng hồ đã che giấu khéo léo các trang bị và công cụ cần thiết để sản xuất bộ máy trên gác mái. Chúng được đem ra sử dụng để tái tạo lại El Primero khi thị trường đồng hồ cơ bắt đầu vực lại. Seiko 6139 được cho sản xuất tới năm 1978 khi hãng quyết định dừng sản xuất đồng hồ chronograph tự động. Việc này kéo dài tới khoảng giữa năm 1990.

Bộ máy cơ học mang tên Spring Drive của Seiko

Seiko đã công bố phiên bản đồng hồ lên dây cót tay đầy đột phá Spring Drive vào năm 1999 và năm 2004 họ tiếp tục giới thiệu mẫu Spring Drive mới trong bộ máy tự lên dây cót. Trong suốt 28 năm phát triển, đã có 600 nguyên mẫu được phát triển, Spring Drive là kết quả của quá trình nghiên cứu chế tạo đồng hồ đeo tay cơ học dựa trên độ chính xác của bộ máy quartz. Bắt đầu từ năm 1977 với bằng sáng chế đầu tiên, tổng cộng có không dưới 230 bằng sáng chế đã được áp dụng trên toàn thế giới cho bộ máy này.

Đồng hồ Spring Drive sử dụng dây tóc như bất cứ bộ máy cơ học nào khác, tuy nhiên bộ thoát cơ học đã được thay thế bằng bộ điều chỉnh được Seiko gọi là “Tri-synchro Regulator”. Bộ điều chỉnh Tri-synchro Regulator kiểm soát hoạt động của dây tóc và điều khiển tốc độ của bánh xe trượt bằng cách sử dụng phanh điện từ để điều chỉnh tốc độ vốn hay được sử dụng trong bộ máy quartz.

14

 Đồng hồ Omega De Ville

Spring Drive có một số lợi thế so với đồng hồ có bộ thoát tiêu chuẩn. Cỗ máy thời gian này có độ chính xác cao theo tuyên bố của Seiko là lệch một giây mỗi ngày, tuy nhiên nhiều chủ sở hữu lại khẳng định cỗ máy này còn chính xác hơn thế. Độ chính xác tăng lên không chỉ do cơ chế điện tử mà còn vì không sử dụng bộ thoát cơ học, giúp các cỗ máy này không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của vị trí và trọng lực - vị trí bạn để đồng hồ sẽ không ảnh hưởng đến độ chính xác.

Ngoài ra, bộ máy dùng cho Spring Drive còn có khả năng trữ cót suốt 72 giờ đồng hồ, tăng 30% so với các bộ máy cơ học thông thường và có bộ hiển thị mức dự trữ năng lượng trên mặt số, về mặt thẩm mỹ cũng hấp dẫn rất nhiều người. Phiên bản này cũng được cho là bền hơn và ổn định hơn nhờ bộ điều chỉnh Tri-synchro Regulator so với trang bị bộ thoát truyền thống. 

Spring Drive là một chiếc đồng hồ đeo tay cơ học đột phá trong thế kỷ XXI - được Seiko định nghĩa là một chiếc đồng hồ hoạt động nhờ bộ điều khiển điện tử - mang đến trải nghiệm tuyệt vời cho người dùng, kết hợp nhuần nhuyễn vẻ đẹp của đồng hồ đeo tay cơ học và độ chính xác của đồng hồ quartz.

Bộ thoát Co-Axial

Lịch sử về chế tạo bộ thoát tràn ngập những thất bại, hàng trăm phát minh được tạo ra nhưng phần lớn đều bị bỏ đi do hiệu suất kém hoặc sản xuất khó khăn. Ba bộ thoát đã được sử dụng chủ yếu với bộ thoát đầu tiên được sử dụng từ nhưng năm 1300 đến giữa thế kỷ XIX. Bộ thoát hình trụ được phát minh bởi nhà chế tạo đồng hồ người Anh Thomas Tompion và được sử dụng cho đến những năm 1950 chủ yếu tại Anh. Tuy nhiên, cả ba bộ thoát này đều gây bất lợi trong việc điều chỉnh thời gian và bị ảnh hưởng nghiêm trọng vì bánh xe cân bằng không thể chuyển động tự do. Thế nhưng, bất lợi này đã được giải quyết khi có sự xuất hiện của hai bộ thoát vượt trội hơn: bộ thoát Detante là phát minh của một người Pháp tên là Pierre Leroy, bộ thoát đòn bẩy được phát minh bởi Thomas Mudge (một nhà chế tạo đồng hồ của Anh). 

Bộ thoát đòn bẩy đơn giản có độ tin cậy cao đã được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các mẫu đồng hồ đeo tay cơ học, nhưng Detante được cho là bộ thoát hiệu quả nhất và vẫn được sử dụng trong đồng hồ chronometer ngày nay. Bộ thoát Co-Axial được phát minh vào khoảng năm 1974 và được cấp bằng sáng chế vào năm 1980, là phát minh của nhà chế tạo đồng hồ người Anh George Daniels kết hợp các lợi thế của hai bộ thoát kể trên. Cung cấp cho bộ máy độ chính xác cao hơn và giảm ma sát trượt có tác dụng bôi trơn cho các pallet không cần thiết, điều này đã giúp loại bỏ một trong những thiếu sót của bộ thoát truyền thống.

15

 Bộ thoát Co-Axial được phát minh vào khoảng năm 1974 và được cấp bằng sáng chế vào năm 1980, là phát minh của nhà chế tạo đồng hồ người Anh George Daniels  

Theo Daniels, Co-Axial có độ tin cậy mạnh mẽ và tỷ lệ chính xác ưu việt cho hiệu suất hoạt động trong thời gian dài. Và sự ra đời của đồng hồ George Daniels Co-Axial Chronograph đã là minh chứng điển hình cho phát minh của ông.

Co-Axial được nhìn thấy lần đầu tiên trong các phiên bản đồng hồ Omega được sản xuất hàng loạt cho dòng De Ville với Caliber 2500 vào năm 1999. Omega khẳng định ma sát xuất hiện ít hơn, hiệu quả cơ học cao hơn và hiệu suất vượt trội theo thời gian và do đó bộ thoát Co-Axial đã được sử dụng trong đồng hồ cao cấp của Omega kể từ đó. Việc sử dụng bộ thoát Co-Axial đã cho phép Omega sản xuất một số đồng hồ đeo tay cơ học chính xác và hiệu quả nhất trên thị trường. Tất cả các bộ máy Co-Axial đều được chứng nhận bởi COSC. Nhắc lại về nguồn gốc bộ thoát co-axial, George tin rằng lợi ích mà bộ thoát Co-Axial mang lại sẽ góp phần làm tăng độ phổ biến của đồng hồ cơ trong thế kỷ XXI và hơn thế nữa.

Đồng hồ Freak và silicon

Từ đầu thế kỷ XXI, silicon đã được sử dụng trong việc sản xuất các linh kiện đồng hồ. Không quá ngạc nhiên khi các nhà chế tác đồng hồ đã nhanh chóng bị quyến rũ bởi silicon vì chất liệu này sở hữu một loạt đặc trưng hấp dẫn các nhà chế tác đồng hồ: độ bền bỉ, trọng lượng nhẹ (chỉ bằng ⅓ trọng lượng của thép), chống ăn mòn, ít bị biến dạng, có khả năng chống sốc cao, ma sát thấp và không dùng dầu hay còn gọi là “gót chân Achilles” trong ngành chế tạo đồng hồ.

Việc sử dụng chất liệu silicon có thể làm cho đồng hồ chính xác hơn, hoạt động hiệu quả và bền bỉ hơn. Thêm vào đó, chúng đòi hỏi khoảng thời gian bảo trì ít thường xuyên hơn. Chưa kể những bộ phận làm từ silicon rẻ hơn và dễ sản xuất hơn bộ phận truyền thống.

Vào năm 2001, Ulysse Nardin đã tạo ra một bước đột phá quan trọng với chiếc đồng hồ Freak phi thường, sử dụng bộ thoát bánh xe kép độc đáo bằng silicon với công nghệ sản xuất hiện đại. Động thái tiên phong này đã khởi nguồn cuộc cách mạng silicon trong ngành sản xuất đồng hồ.

Kể từ đó, nhiều nhà sản xuất đồng hồ khác đã sử dụng silicon. Omega nhận thấy silicon hiệu quả trong việc chế tạo bộ thoát Co-Axial. Sau đó, tất cả các Caliber Co-Axial hiện nay đều được trang bị dây tóc cân bằng silicon. Patek Philippe cũng tham gia vào việc sử dụng và phát triển silicon trong đồng hồ từ năm 2005. Thương hiệu đã nộp bằng sáng chế cho bánh xe cân bằng silicon đầu tiên cho bộ thoát đồng hồ Thụy Sĩ. Động thái này đã gây ra rất nhiều cuộc tranh cãi, trong năm 2011, thương hiệu này đã tiếp tục tuyên bố sẽ trang bị bánh xe cân bằng silicon vào tất cả các bộ máy của đồng hồ Patek Philippe. 

Bốn bộ máy của Breguet trước đây đã được tích hợp silicon và vào năm 2006, họ đã giới thiệu chiếc đồng hồ đầu tiên có dây tóc cân bằng silicon và bộ thoát. Gần đây hơn là vào năm 2013, Roger Dubuis đã ra mắt Excalibur Quatuor là chiếc đồng hồ silicon đầu tiên trên thế giới có bốn dây tóc cân bằng. Richard Mille đã khai thác đặc tính của silicon ở độ cứng, khả năng chống mài mòn, ảnh hưởng nhiệt độ và độ nhẹ của nó, họ đã sử dụng silicon nitride cho vành bezel và vỏ của chiếc RM011.

Có một số tài liệu đề cập đến phát minh mới này: Ví dụ như xét về thẩm mỹ, silicon không thể mang đến trải nghiệm thị hiếu cho khách hàng như chất liệu kim loại truyền thống. Những bộ phận này phải được làm thủ công, theo Stephen Forsey là không thể loại trừ các bộ phận được chế tạo thủ công vì chúng là một phần không thể thiếu của chế tạo đồng hồ cao cấp.

Ngoài ra còn có vấn đề thay thế phụ tùng cho đồng hồ sử dụng silicon. Vì các bộ phận làm mới từ silicon khó hơn rất nhiều so với kim loại, gần như khó có thể tái tạo lại trong tương lai - theo quan điểm của Maximillian Busser. Một vấn đề khác mà một số nhà sản xuất đồng hồ nêu ra là silicon khi đông cứng có thể dễ vỡ và khó tồn tại lâu như kim loại trong thời gian dài. Họ cho rằng còn quá sớm để chứng minh hay bác bỏ luận điểm này, nhưng ngay cả Ulysse Nardin, thương hiệu đã đổi mới bằng silicon cũng đã phát minh ra dạng silicon phủ kim cương hay còn gọi là “Diamonsil". Phiên bản silicon cứng này có thể chống lại các mối lo ngại về độ tiềm tàng khiến nó trở thành một bộ phận chế tạo đồng hồ cơ trong tương lai với giả định rằng chúng có thể được sao chép dễ dàng.

Liệu đến cuối cùng, silicon có đưa các nhà chế tác đồng hồ đến gần hơn với ước mơ về một chiếc đồng hồ cơ có thể chạy mãi mãi mà không cần bảo trì và cực kỳ chính xác? Chỉ cần nhìn thấy hành trình phát triển của nó đã đủ thấy tầm quan trọng của silicon trong ngành chế tạo đồng hồ. 

đồng hồ chính hãng
Bình luận

XEM THÊM


loading