Ian Brodie Rated 3 / 5 based on 5 reviews

Top 10 mẫu đồng hồ đeo tay sở hữu kỹ thuật phức tạp (Phần 1)

0
comments
1 tháng trước

Ngành công nghiệp đồng hồ luôn phát triển không ngừng và liên tục cho ra mắt những phát kiến vĩ đại. 5 chiếc đồng hồ dưới đây sẽ mở màn cho series "Top 10 mẫu đồng hồ đeo tay sở hữu kỹ thuật phức tạp" nổi tiếng trên thế giới.

Diễn đàn Từ điển đồng hồ

Hầu hết đồng hồ đeo tay ngày nay được sản xuất hầu như vẫn giữ nguyên những giá trị của đồng hồ truyền thống lâu đời. Một lý do khiến nhiều nhà sưu tập quan tâm đến đồng hồ cổ điển là bởi những mẫu đồng hồ ấy là đại diện cho những thành tựu quan trọng về công nghệ lẫn chức năng.

Đến giai đoạn năm 1920, người tiêu dùng đã bắt đầu quen dần với sự xuất hiện của đồng hồ đeo tay vì điều này đã được thể hiện qua doanh số thực tế và đồng hồ bỏ túi đã bắt đầu suy giảm đáng kể. Đến năm 1930, tỷ lệ đồng hồ đeo tay được sử dụng so với đồng hồ bỏ túi là 50:1. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giới thiệu bạn đọc 10 chiếc đồng hồ đeo tay sở hữu kỹ thuật phức tạp trong lịch sử.

Đồng hồ Chronograph

1

  Longines được cho là thương hiệu đã sản xuất chiếc đồng hồ chronograph đầu tiên vào năm 1913  

Đồng hồ chronograph là chức năng phổ biến nhất hiện nay và nó được sử dụng từ hẹn giờ luộc trứng đơn giản cho tới hẹn giờ giúp tàu vũ trụ trở về Trái Đất an toàn.

Lịch sử của đồng hồ chronograph mới được sửa lại gần đây khi giới chuyên môn phát hiện ra cha đẻ thực sự của phát minh này là Louis Moinet vào năm 1816 nhưng phải đến tận một thế kỷ sau, cơ chế chronograph mới thực sự được đưa vào đồng hồ đeo tay.

Longines được cho là thương hiệu đã sản xuất chiếc đồng hồ chronograph đầu tiên vào năm 1913. Chiếc đồng hồ có một nút bấm monopusher, đường kính 29mm, độ chính xác đến ⅕ của 1 giây và trang bị Caliber 13.33Z. Đây là tiền thân của Longines caliber 13ZN trong một chiếc đồng hồ khác được sản xuất vào năm 1936: đồng hồ flyback chronograph đầu tiên.

Đối với những ai quan tâm đến đồng hồ chronograph đầu tiên của Longines, chắc chắn sẽ không thể bỏ qua phiên bản kỷ niệm giới hạn của chiếc đồng hồ này được phát hành tại Baselworld 2012. Sự khác biệt của phiên bản kế nhiệm này là  bộ máy in-house truyền thống đã được thay thế bằng bộ máy lộ thiên từ ETA.

Breitling cũng đã phát minh ra một trong những chiếc đồng hồ chronograph đeo tay đầu tiên vào năm 1915. Gaston Breitling là người đầu tiên có ý tưởng tạo ra chiếc đồng hồ chronograph duy nhất được trang bị một núm điều chỉnh có chức năng khởi động, dừng và đặt lại giờ. Năm 1923, cơ chế này được hoàn thiện hơn có thể thực hiện hai chức năng bắt đầu và dừng tách biệt.

Nhân dịp đó, Universal Geneve đã trình làng chiếc đồng hồ chronograph đầu tiên vào năm 1917 và sau đó vào năm 1936 tăng thêm bộ đếm giờ chronograph.

Những đổi mới về đồng hồ chronograph ban đầu đã mở đường cho những phát minh sau này như bộ máy Valjoux 7750 được dùng trong phần lớn đồng hồ chronograph cơ học trên thị trường hiện nay.

Đồng hồ đeo tay chống nước

2

 Rolex đã chứng minh những tuyên bố về khả năng chống nước được đưa ra cho dòng Oyster qua chiếc đồng hồ Cross-Channel năm 1927

“Chúng ta cần phải chế tạo thành công vỏ đồng hồ chặt đến mức bộ máy bên trong được đảm bảo vĩnh viễn chống lại sự bào mòn của bụi, mồ hôi, nước và sự thay đổi nhiệt độ đột ngột. Chỉ có như vậy độ chính xác của đồng hồ Rolex mới được bảo đảm” - Trích dẫn yêu cầu của Hans Wilsdorf - người sáng lập ra Rolex đã viết cho các trợ lý của mình trước khi họ bắt đầu nghiên cứu mẫu đồng hồ Rolex Oyster.

Khó khăn chính mà Rolex gặp phải khi sản xuất một chiếc đồng hồ không thấm nước là ngăn nước và bụi xâm nhập qua núm điều chỉnh. Nhưng vào năm 1925, hai nhà sản xuất đồng hồ Thụy Sĩ là Paul Perregaux và Georges Peret đã được cấp bằng sáng chế cho một hệ thống khóa vặn mới vô cùng quan trọng. Sử dụng bộ vỏ kháng nước, Rolex đã phát triển một phiên bản nâng cấp núm điều chỉnh với tên gọi Oyster, mà họ đăng ký bằng sáng chế tại Anh vào năm 1926. Được đặt tên như vậy bởi thiết kế đồng hồ kín như một con hàu.

Nhờ vậy Rolex đã có động lực để tạo ra một bộ máy tự lên dây cùng với đồng hồ kháng nước như mong muốn. Bởi vì dù có vỏ Oyster chống bụi và nước, nhưng nếu chủ sở hữu quên vặn chặt núm điều chỉnh lại sau khi lên dây cót, hoặc các dây tóc và vòng đệm bị mòn theo thời gian thì bụi và nước vẫn có thể đi vào bộ máy và làm hỏng đồng hồ.

Rolex đã chứng minh những tuyên bố về khả năng chống nước được đưa ra cho dòng Oyster, thông qua sự kiện vận động viên bơi lội trẻ tuổi người Anh Mercedes Gleitze hoàn thành thành công một hành trình bơi trong 10 giờ với người bạn đồng hành là chiếc đồng hồ Rolex năm 1927. Rolex đã nhân sự kiện này để ra mắt đồng hồ chống nước vào khoảng năm 1950, và cho phép các đại lý ủy quyền của họ đặt chiếc đồng hồ mới này vào bể cá bày trước cửa hàng với mục đích thể hiện khả năng chống thấm nước.

Omega cũng giới thiệu mẫu đồng hồ chống nước của họ vào năm 1932 và để tránh vi phạm bản quyền núm điều chỉnh được cấp bằng sáng chế của Rolex, họ đã đặt toàn bộ đồng hồ bên trong một bộ vỏ khác và quảng cáo đồng hồ mới với tên gọi Marine - phiên bản đồng hồ lặn đầu tiên. Năm 1936, Marine đã được kiểm tra ở độ sâu 73m trong 30 phút ở hồ Geneva và được Phòng thí nghiệm quốc gia Thụy Sỹ ở Neuchâtel chứng nhận ở độ sâu 135m một năm sau đó.

Omega Marine được chứng thực bởi William Beebe, người nổi tiếng với việc xuống độ sâu 3.028 ft trong con tàu lặn Bathysphere năm 1934. Ông cũng là người đầu tiên mang đồng hồ Omega Marine trong hành trình lặn Thái Bình Dương ở độ sâu 14m của mình vào năm 1936. Và tất nhiên, chiếc đồng hồ này đã xuất sắc vượt qua bài thử nghiệm. Khả năng kháng nước và chống bụi của phiên bản này đã trở thành một tiến bộ vượt trội của ngành khoa học chế tạo đồng hồ.

Rolex và Omega sau đó đã tiếp tục phát triển sản xuất đồng hồ đeo tay chống nước khi cho ra mắt những bộ sưu tập đồng hồ lặn nổi tiếng như Rolex Sea DwellerOmega Seamaster Planet Ocean

Đồng hồ đeo tay chống sốc

3

 Cơ chế chống sốc cho đồng hồ đeo tay được bắt đầu phát triển trong khoảng 1920 - 1930

Trong lịch sử chế tạo đồng hồ đeo tay, có một giai thoại kể rằng trong một bữa tiệc nọ, Breguet vì muốn thu hút sự chú ý của những người đang có mặt trong buổi tiệc vào chiếc đồng hồ của mình đã cố tình thả đồng hồ xuống sàn và gây ra tiếng động lớn. Tất nhiên vào thời đại của Breguet, tất cả mọi người đều nghĩ chiếc đồng hồ đó sẽ bị hỏng nhưng thực tế lại ngược lại. Chiếc đồng hồ vẫn hoạt động tốt nhờ cơ chế chống sốc mới của mình.

Do bản chất những mẫu đồng hồ cơ thường có bộ vỏ mỏng nên các cú sốc vật lý được coi là một trong những kẻ thù lớn nhất. Bộ cân bằng là phần dễ bị tổn thương nhất. Đồng hồ cơ của bạn có thể chịu được một số tác động ngoại lực nhỏ như va chạm nhưng nếu thả xuống sàn phòng tắm, bạn sẽ phải chi trả một số tiền lớn cho việc sửa chữa.

Ngày nay thậm chí còn có tiêu chuẩn ISO riêng cho khả năng chống sốc của đồng hồ đeo tay. Cơ chế chống sốc cho đồng hồ đeo tay được bắt đầu phát triển trong khoảng 1920 - 1930. Một trong những cơ chế đầu tiên và được biết đến nhiều nhất là hệ thống Incabloc, về bản chất gần giống với giải pháp trước đó được sử dụng bởi Breguet trước đó. Cùng với hệ thống này, trên thị trường xuất hiện thêm nhiều trang bị chống sốc được phát triển. Vào năm 1920, Wyler Geneve đã sản xuất ra bánh xe cân bằng Incaflex với hai cánh tay đàn hồi cong có khả năng hấp thụ mọi cú sốc. Đồng hồ Wyler thời điểm đó nổi tiếng về sự bền bỉ và dẻo dai, có khả năng chống chọi những pha nguy hiểm mà thương hiệu nghĩ không thua kém các hãng đồng hồ biểu tượng, đã góp phần nâng cao danh tiếng của hãng. Năm 1956, hai chiếc đồng hồ Wyler Incaflex đã rơi từ tháp Eiffel ở độ cao 300m và chứng minh vẫn hoạt động tốt. Vào năm 1962, sáu chiếc đồng hồ hãng này đã được thử nghiệm rơi khỏi tháp Seattle và đạt kết quả tương tự.

Mặc dù bằng sáng chế Incabloc đã được nhiều người biết đến nhưng trang bị chống sốc cho đồng hồ đeo tay phải mất một thời gian dài để được triển khai trên toàn cầu và sự hỏng hóc của các bộ cân bằng sản xuất những năm 1950 là một trong những nguyên nhân phổ biến gây ra lỗi vận hành. Bằng sáng chế Incabloc đã thất bại trong việc bảo vệ thiết kế của nó và nhiều hệ thống tương tự khác đã được phát triển. Những hệ thống nổi tiếng được nhiều người biết đến là hệ thống Kit, Diashoc của Seiko cùng Parashoc của Citizen

Rolex đã phát triển bộ giảm xóc Paraflex có khả năng chống va đập mạnh hơn 50% cũng như phát triển dây tóc làm từ niobium, zirconium và hợp kim oxygen có khả năng chống sốc gấp 10 lần so với dây tóctruyền thống. Tập đoàn Swatch cũng đã phát triển một thứ gọi là Nivachoc, được cho là có khả năng tái thiết lập độ chính xác của đồng hồ sau một cú va đập và lần đầu tiên được biết đến khi nó được hãng đồng hồ Breguet sử dụng vào năm 2006.

Một trong những phát minh gần đây nhất về trang bị chống sốc là vào năm 2007 với đồng hồ Ulysse Nardin phiên bản Innovision, trong đó tính đàn hồi và khả năng ma sát vượt trội của silicon đã được sử dụng để tạo ra một hệ thống giảm xóc mới.

Đồng hồ tự lên cót

5

 Trưởng phòng nghiên cứu và phát triển tại nhà máy Rolex Bienne, Emile Borer đã phát triển thêm thiết kế Harwood

và sử dụng nó làm cơ sở cho bộ máy tự động 620 cho dòng đồng hồ Oyster Perpetual

Vào năm 1770, Perrelet đã phát minh ra cơ chế tự lên dây cót đầu tiên cho đồng hồ nhưng phải đến năm 1923, nhà chế tạo đồng hồ người Anh John Harwood mới hoàn thiện phát minh về cơ chế tự lên dây cho đồng hồ đeo tay.

Sử dụng sức mạnh của vật nặng hình bán nguyệt xoay 300 độ, cung cấp năng lượng cho chiếc đồng hồ. Chiếc đồng hồ sẽ chỉ chạy trong 12 giờ khi bộ phận lên cót đầy đủ và thời gian được đặt bằng cách xoay vành bezel vì đồng hồ không có bộ phận lên cót truyền thống. Với sự hỗ trợ tài chính, ông đã tiếp tục sản xuất hàng ngàn đồng hồ dựa trên cơ chế mới của mình, nhưng rất tiếc đến 1920, do suy thoái kinh tế tại Anh, công ty này đã bị phá sản. Thay vào đó, công ty Harwood đã sáp nhập vào năm 1931 và cho phép các công ty khác sử dụng thiết kế này.

Trưởng phòng nghiên cứu và phát triển tại nhà máy Rolex Bienne, Emile Borer đã phát triển thêm thiết kế Harwood và sử dụng nó làm cơ sở cho bộ máy tự động 620 cho dòng đồng hồ Oyster Perpetual. Trong phiên bản mới này, rotor có thể xoay 360 độ theo cả hai hướng. Trang bị này không chỉ tăng mức dự trữ năng lượng cho đồng hồ để có thể vận hành hiệu quả suốt 35 giờ. Thành quả của sáng tạo này là vào năm 1931 chiếc đồng hồ đeo tay automatic hoàn thiện đầu tiên đã ra đời - Rolex Oyster Perpetual, một mẫu đồng hồ mà tất cả chúng ta đều rất quen thuộc. 

Lợi ích của việc kết hợp vỏ Oyster với bộ máy automatic mới được phát triển, kể từ lúc đó, đồng hồ không cần phải lên dây cót tay mỗi ngày và núm điều chỉnh chỉ được sử dụng để chỉnh giờ, điều đó có nghĩa là đảm bảo khả năng hỗ trợ tính kháng nước của núm vặn và giảm thiểu khả năng chủ sở hữu quên vít chặt. 

Đồng hồ có khả năng định hướng

6

 Longines đã tham gia vào sản xuất đồng hồ có thể định hướng khi trở thành nhà tài trợ đồng hồ đếm giờ chính thức cho chuyến bay đơn qua Đại Tây Dương vào năm 1927

Năm 1919, có 3 chiếc máy bay bay hành trình từ Newfoundland đến London nhưng chỉ một chiếc đến đích an toàn. Thảm kịch này đã khiến cho một trong những cha đẻ của ngành hàng không, Cơ trưởng Philip Weems của Hải quân Hoa Kỳ tiến hành nghiên cứu các phương pháp định hướng đường bay. Vì không thể sử dụng phương pháp tương tự như những người đi biển, Weems bắt đầu nghĩ ra các công cụ mới và kỹ thuật điều hướng.

Trong quá trình tìm hiểu, ông nhận ra độ chính xác khi xem thời gian là vô cùng quan trọng, bởi vì trong lĩnh vực liên quan đến tốc độ và khoảng cách dài, bị sai dù chỉ một vài giây cũng có thể gây ra thảm họa.

Để giải quyết vấn đề này, Weems đã đưa ra một giải pháp hết sức khôn ngoan: Chế tạo đồng hồ định hướng. Vì thời điểm đó không có chiếc đồng hồ nào có thể điều chỉnh kim giây trên mặt số. Để làm được điều này, ông đã tạo ra một mặt số có thể di chuyển được, đánh dấu với thang đo 60 giây cho phép bộ xem thời gian thực sự chính xác. 

Phần thứ hai của việc xây dựng Hệ thống điều hướng Weems là phát minh ra một cơ chế có chức năng định vị khi đường chân trời không nhìn thấy được. Các bộ điều khiển trong những năm 1920, 1930 đã có thể định hướng nhưng hệ thống của Weems có thể làm được điều này với tính chính xác cao hơn nhiều và đảm bảo độ an toàn hơn cho chuyến bay.

Longines đã tham gia vào sản xuất đồng hồ có thể định hướng khi trở thành nhà tài trợ đồng hồ đếm giờ chính thức cho chuyến bay đơn qua Đại Tây Dương vào năm 1927 - sự kiện này đã tạo điều kiện cho hãng hợp tác với phi công nổi tiếng Charles Lindbergh để tạo ra chiếc đồng hồ Hour Angle, một biến của đồng hồ Weems.

7

Longines rất nhiệt tình và một bằng sáng chế đã được đệ trình vào tháng 10 năm 1931 cho Longines Hour Angle đi kèm vành bezel xoay

Lindbergh muốn thúc đẩy ý tưởng của Weems về một chiếc đồng hồ định hướng hoàn thiện. Anh ấy quan tâm đến vấn đề về độ chính xác của la bàn máy bay trong suốt chuyến bay và đưa ra ý tưởng về chiếc đồng hồ có chia độ theo độ và phút, cho phép người dùng tính toán kinh độ. Lindbergh đã bị thuyết phục rằng ý tưởng của anh ta sẽ là trợ giúp quý giá cho các phi công và thậm chí anh ta còn cung cấp các bản phác thảo cho Longines.

Longines rất nhiệt tình và một bằng sáng chế đã được đệ trình vào tháng 10 năm 1931 cho Longines Hour Angle đi kèm vành bezel xoay.

Phiên bản đầu tiên tích hợp bộ máy thuộc đồng hồ bỏ túi lên dây cót thủ công có dây đeo bằng da dài có thể đeo qua áo khoác dày và một núm vặn cực lớn. Năm 1938, Longines phát hành phiên bản cải tiến thứ hai. Kể từ khi được giới thiệu và cho đến khi có sự can thiệp của WWII, thiết kế của Lindbergh đã góp phần quan trọng trong việc thiết lập một số kỷ lục trong thế giới hàng không mới.

Đồng hồ chỉnh giây Weems và đồng hồ Lindbergh Angle Hour là hai cột mốc quan trọng cho sự phát triển đồng hồ phi công cũng như là công cụ hỗ trợ điều hướng quan trọng cho đến khi chúng bị lỗi thời bởi thiết bị dẫn đường điện tử. Longines mang đến sản phẩm tái tạo đích thực của cả hai chiếc đồng hồ này.

(Vẫn còn tiếp)

đồng hồ chính hãng
Bình luận

XEM THÊM


loading