Ian Brodie Rated 5 / 5 based on 5 reviews

Lịch sử về nhà chế tạo bộ máy đồng hồ hàng đầu Thụy Sỹ: ETA (Phần 1)

0
comments
1 tháng trước

Không thể phủ nhận nhận định rằng ETA là một trong những công ty có quyền lực và nổi trội nhất trong ngành công nghiệp đồng hồ hiện nay. Vậy điều gì làm nên sức mạnh của ETA? Hãy tìm hiểu loạt bài viết này!

Diễn đàn Từ điển đồng hồ

Không thể phủ nhận nhận định rằng ETA là một trong những công ty có quyền lực và nổi trội nhất trong ngành công nghiệp đồng hồ hiện nay. ETA là nhà chế tạo bộ máy đồng hồ lớn nhất Thụy Sỹ. Rất nhiều thương hiệu đồng hồ lớn nhỏ hiện đang phụ thuộc vào những sản phẩm mà ETA tạo ra. Mặc dù những vai trò đặc biệt quan trọng từ trước cho đến nay, đối với nhiều người, họ cũng không hề biết đến cái tên ETA. Đơn giản thôi, những bộ máy đồng hồ nằm bên trong, ba chữ cái ETA không hề được in ngay trên mặt số đồng hồ.

Thực tế, việc ít người biết đến cái tên ETA mặc dù công ty này thực sự là một cái tên lớn trong ngành đồng hồ vì họ có một đường lối phát triển riêng. Trong khi nhiều thương hiệu đang cố gắng không ngừng nghỉ chứng minh thực lực hay đưa ra bề dày lịch sử để dễ dàng tiếp cận người mua, thì ETA lại không hề muốn bán sản phẩm của họ trực tiếp cho công chúng. Hệ quả là, ETA hầu như chẳng bao giờ công khai với báo đài về thành tựu công nghệ họ có được chỉ để khiến chúng ta mua một hay hai bộ máy đồng hồ. Cái ETA là bán những bộ máy ébauches (bộ máy đồng hồ bán lắp ráp, bộ máy thô) và hoàn thiện lại những bộ máy có chất lượng cho nhiều thương hiệu đồng hồ khác. Các thương hiệu sau đó tiến hành trang trí, hoàn thiện với DNA riêng của họ trên bộ máy nền.

ETA-Sa-Logo-800

Logo ETA

Khi những bộ máy in-house trở thành một trong những cách ghi điểm trong mắt khách hàng, nhiều thương hiệu từ trung cấp tới cao cấp đã tiến hành thay tên khác cho những bộ máy do ETA sản xuất, do đó khách hàng càng ít biết đến nhà sản xuất đồng hồ này hơn. Dù vậy, chúng ta cũng không thể nào quên được ETA là một yếu tố quan trọng, không thể thiếu trong lịch sử phát triển của công nghiệp đồng hồ Thụy Sỹ. Hãy cùng tìm hiểu kỹ hơn về lịch sử của nhà sản xuất bộ máy đồng hồ hàng đầu Thụy Sỹ – ETA:

Bối cảnh ngành đồng hồ Thụy Sỹ

Cho đến đầu thế kỷ 20, ngành công nghiệp đồng hồ Thụy Sỹ bao gồm một lượng lớn những nhà sản xuất chuyên lắp ráp những chiếc đồng hồ hoàn chỉnh từ nhiều chi tiết máy khách nhau. Thực tế, điều này có nghĩa là có rất nhiều cơ sở chỉ chuyên sản xuất một loại chi tiết trong bộ máy đồng hồ (như dây tóc, dây cót hay nhiều bộ phận cần sự chính xác cao) trong khi một số khác lại chuyên lắp ráp các bộ phận lại với nhau, tạo thành bộ máy thô ébauches. Ébauches là những bộ máy gồm các chi tiết cơ bản, và không có sự có mặt của dây tóc hoặc bộ thoát. 

Chắc hẳn sẽ có câu hỏi tương tự như “Nếu tất cả đều sản xuất chi tiết và những bộ máy chưa hoàn chỉnh, thì ai sẽ lắp ráp chúng?”. Câu trả lời chính là những bộ máy rỗng, và các chi tiết khác được bán đến các workshop (bên sản xuất) độc lập, họ tự mình lắp ráp. Họ có thể tiếp tục tùy chỉnh, trang trí, lắp ráp hoàn thiện cho từng cỗ máy riêng. Từ thuở mới thành lập, thương hiệu đồng hồ Rolex cũng đi nhập các linh kiện, chi tiết máy từ các nhà sản xuất khác và lắp ráp lại rồi bán những chiếc đồng hồ hoàn chỉnh, mà không phải sản xuất in-house như hiện nay.

Bước vào chiến tranh Thế chiến thứ nhất, cục diện ngành công nghiệp đồng hồ đã bị biến đổi. Phần lớn những công ty cung ứng đã không chế tạo đồng hồ hoặc chi tiết máy nữa, mà chuyển sang việc sử dụng máy móc cũng như nguồn nhân lực để chế tạo các sản phẩm quân sự. Vì nguồn cung về các yếu phẩm quân sự cao gấp nhiều lần công cụ bấm giờ nên đây được xem là điều hiển nhiên. Khi chiến tranh qua đi, các công ty này quay trở lại công việc quen thuộc là tạo ra bộ máy đồng hồ thô, và lúc đó đã dẫn đến tình trạng: Dư thừa nguồn cung. Các nhà sản xuất hoạt động độc lập vì chưa hề có một nhóm đủ quyền lực hay chính quyền có thể kiểm soát hoạt động sản xuất. Đã quá muốn để các nhà sản xuất nhận ra một điều: nhu cầu của các công ty làm đồng hồ và số lượng lớn chi tiết máy hoặc bộ máy thô là không đủ.

Các cơ sở sản xuất rơi vào một cuộc tranh đấu để có thể sống sót, bằng bất cứ cách nào, họ quyết định chơi chiến lược về giá. Trong một cuộc cạnh tranh về giá cả, nhiều cơ sở đã bán tất cả các chi tiết máy dư thừa đến nhiều công ty Thụy Sỹ, thậm chí là tới cả những nhà sản xuất không phải ở Thụy Sỹ. Những công ty này có nguồn gốc chủ yếu là Mỹ. Những công ty từ Mỹ mua các bộ máy Thụy Sỹ chất lượng cao và trang bị chúng vào nhiều chiếc đồng hồ có giá thấp. Một lượng lớn những chiếc đồng hồ có mức giá phải chăng đã xuất hiện, đây được xem là hệ quả thực sự xấu đối với ngành công nghiệp đồng hồ Thụy Sỹ. Bạn cứ thử tưởng tượng, các công ty đồng hồ Thụy Sỹ sử dụng cùng một bộ máy có chung chất lượng với bộ máy mà các công ty nước ngoài, song giá đồng hồ Thụy Sỹ vẫn cứ cao hơn?

Toàn cảnh ngành công nghiệp đồng hồ Thụy Sỹ đã phải đối mặt với các vấn đề như là: doanh thu giảm mạnh, cạnh tranh khắc nghiệt với công ty bên ngoài cùng việc tăng nợ không ngừng (ngân hàng Thụy Sỹ không hỗ trợ). Cho đến giữa năm 1920, tổng số nợ của toàn ngành đồng hồ Thụy Sỹ là 200 triệu CHF.

Ebauches-SA-Vintage-Ad

 

Rõ ràng cần có một phương pháp khắc phục hiệu quả vì chính tự thân các công ty nếu tiếp tục hoạt động riêng rẽ sẽ không tạo ra sự khác biệt nào cả. Bước đầu tiên trong nỗ lực phá vỡ thời kỳ kinh khủng chính là việc thành lập Liên đoàn đồng hồ Thụy Sỹ (Swiss Watch Federation – viết tắt là FH) trong năm 1924. Liên đoàn đã thống nhất được ba phần tư toàn ngành chế tác. Hai năm sau đó, với nguồn hỗ trợ tài chính tuyệt vời từ phía các ngân hàng Thụy Sỹ, tổ chức mang tên Ébauches SA đã được tạo ra bởi ba nhà sản xuất bộ máy lớn nhất toàn ngành: Schild SA (ASSA), Fabrique d’horlogerie de Fontainemelon (FHF), và A. Michel SA (AM).

Để vận hành hiệu quả tổ chức, cả ba thành viên sáng lập phải tôn trọng 3 nguyên tắc cơ bản. Đầu tiên, cả ba nhà sáng lập cùng duy trì quyền quản lý cũng như quyền đặt mức giá hợp lý. Điều này sẽ loại bỏ sự đe dọa về một cuộc chiến về giá đầy rẫy hiểm nguy và không công bằng. Thứ hai, cả ba cùng đặt ra những tiêu chuẩn về chuyên môn của các chi tiết máy nhằm tối ưu hóa sản xuất và giảm thiểu các chi phí liên quan. Cuối cùng, vào tháng 12 năm 1928, cả ba nhà sáng lập đã điều chỉnh lại việc xuất khẩu những chi tiết máy, theo quy ước “convention de chablonnage”. Điều này cho phép ngăn cản bất kỳ những bên tham gia nào có thể bán linh kiện cho các công ty nước ngoài. Điều nghe có vẻ hứa hẹn này đã khiến hơn 90% nhà sản xuất máy ébauche cùng gia nhập cộng đồng chung Ébauches SA trong thời kỳ đầu của năm 1930.

Khi tất cả các xưởng sản xuất cùng tựu chung lại dưới chướng Ébauches SA, các công ty lắp ráp và cung cấp những chiếc đồng hồ hoàn chỉnh cũng thấy được lợi ích trong việc đoàn kết với nhau. Họ nhanh chóng hành động và tổ chức SSIH được thành lập dưới sự khởi xướng của Louis Brandt, Omega và Tissot. Vào năm 1932, công ty Lemania gia nhập theo, và tổ chức có thể tạo ra những bộ máy chronograph. (Lemania đã từng có thời điểm cung cấp bộ máy cho một vài model của thương hiệu đồng hồ Patek Philippe)

Mặc dù những công ty Thụy Sỹ đã lựa chọn cách thức liên kết thông minh nhưng đến cuối cùng họ cũng không thể ngăn cản được một cuộc khủng hoảng xảy ra. Bám sát những vấn đề về giá có từ năm 1920, cuối cùng một cuộc khủng hoảng tài chính đã nổ ra vào năm 1929. Cơn đại suy thoái đã gây ảnh hưởng đến toàn bộ ngành công nghiệp đồng hồ, khoảng 20.000 thợ đồng hồ trở nên thất nghiệp. Việc tập trung những công ty sản xuất máy lớn về Ébauches SA là một bước tiến quan trọng, nhưng việc kéo dài quyền tự do quản lý của các công ty đó làm cho Ébauches SA mất đi khả năng khả năng định ra hướng đi chung một cách hiệu quả. 

Điều cần thiết ở đây là một tổ chức mới, có đủ quyền lực bao quát và điều chỉnh lại toàn bộ ngành công nghiệp đồng hồ. Cuối cùng vào năm 1931, General Swiss Watch Industry AG (ASUAG) đã được thành lập. Tổ chức này được tài trợ một phần từ Liên minh Thụy Sỹ – Swiss Confederation với tổng số tiền là 13,5 triệu CHF (50 triệu CHF là số ngăn sách cần có để thành lập nên ASUAG). Với nguồn tài chính dồi dào, ASUAG ngay lập tức đã đạt được bước tiến đáng kể. Cho đến năm 1932, ASUAG đã thống nhất toàn bộ các nhà sản xuất chi tiết máy thuộc quyền quản lý của FAR và FBR vốn chuyên cung cấp đòn bày và bánh xe cân bằng lại.

Dr-Joseph-Girard-Urs-Schi

Dr. Joseph Girard vào giáo viên Urs Schild thành lập nhà máy cung cấp bộ máy ebauche “Dr. Girard & Schild“, sau đó đỏi tên thành Eterna vào năm 1905

Sự bắt đầu của ETA

Hãy bắt đầu trước với cái tên Eterna. Được thành lập với tên gọi “Dr. Girard & Schild” vào năm 1856, xưởng sản xuất máy ébauche này đã được đổi tên thành Eterna vào năm 1905. Cho đến năm 1929, Eterna đã có 800 nhân công với việc sản xuất khoảng 2 triệu chi tiết máy hàng năm.

Vào thời điểm đó, Eterna được quản lý bởi Theodor Schild, con của người sáng lập công ty. Theodor Schild nhận một trách nhiệm to lớn từ chính người cha của mình. Theodor Schild cũng nhìn ra được rằng Eterna chịu sự ảnh hưởng không kém bất kỳ công ty nào khác do khủng hoảng kinh tế gây nên. Những lợi ích khi sáp nhập với ASUAG/Ébauches SA có thể chưa chắc cải thiện tình hình, nhưng cuối cùng Theodor Schild vẫn quyết định để Eterna gia nhập ASUAG/Ébauches SA. 

Dĩ nhiên, Theodor Schild muốn đảm bảo rằng anh ta có quyền tự quyết với công ty Eterna ngay cả khi họ chung một tổ chức. Tiếp theo, về ban đầu, Ébauche SA (như tên gọi của nó) vốn chỉ dành riêng cho các nhà sản xuất bộ máy ébauche mà không dành cho các nhà lắp ráp đồng hồ. Dó đó, Eterna buộc phải chia thành hai phần: một vẫn tiếp tục sản xuất những chiếc đồng hồ hoàn chỉnh, và một chỉ sản xuất máy thô. Một khi Theodor Schild tiến vào hiệp định thống nhất, công ty Eterna phải chia làm hai ngay tập tức. Như vậy, công ty Eterna vẫn duy trì là một nhà sản lắp ráp đồng hồ đồng hộc, trong khi nhánh riêng chuyên sản xuất bộ máy đồng hồ được gọi là ETA.

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định, cái tên ETA sẽ không bao giờ tồn tại nếu như không có sự lên và xuống của ngành công nghiệp đồng hồ. Mặc dù đến năm 1932 cái tên ETA mới chính thức xuất hiện, nhưng những bộ máy ébauche đóng dấu “Dr. Girard & Schild” đã có mặt từ trước, sau đó là cái tên Eterna kể từ năm 1956. Về mặt pháp luật, các thiết bị của nhà sản xuất bộ máy đã được chia ra từ công ty mẹ Eterna kể từ năm 1932. Chúng có cái tên mới là ETA SA. Khi mà việc sáp nhập diễn ra hoàn tất, Theodo Schild đã nghỉ hưu và Rudolf Schild tiếp quản ETA.

Eterna-Automatic-Advertis

Quảng cáo về đồng hồ tự động của Eterna

Tại ASUAG, sản xuất bộ máy đã đã được chia thành ba phân đoạn lớn. Các nhà sản xuất như FHF, Fleurier, Unitas,...chịu trách nhiệm chế tạo các bộ máy lên dây cót bằng tay, đồng hồ bấm giờ do Valjoux và Venus tạo ra, trong khi ETA và một vài công ty khác đảm nhiệm vị trí chế tạo đồng hồ tự động - thứ khá mới mẻ trên thị trường. Đến năm 1948, ETA thành lập trường chế tạo đồng hồ để có thể tuyển dụng và đào tạo thợ thủ công đáp ứng nhu cầu mở rộng nhanh chóng của ngành công nghiệp trong những năm '50 và đầu những năm 60'. Hơn nữa vào thời điểm này, thương hiệu ETA thực sự rất bận rộn phát triển các bộ máy mới kết hợp ổ bi vào cơ chế lên dây tự động.

Năm 1948, những nỗ lực của ETA đã thành hiện thực khi họ công bố Eterna-matic, chiếc đồng hồ đeo tay tự động đầu tiên được trang bị cơ chế ổ bi trong quá trình lên dây tự động. Công nghệ mới này đã được chứng minh là thành công đến mức hình thành biểu tượng năm ổ bi - logo của ETA kể từ đó. Cuối cùng, ETA cũng thử nghiệm các bộ máy tần số cao và vào giữa những năm 70 thậm chí đã tìm cách nghiên cứu tận cùng của thương hiệu Zenith: bộ máy thực hiện 36.000 dao động mỗi giờ. Thật không may, các mẫu đồng hồ chứa bộ máy này đã bị ngừng sản xuất.

Nhìn vào những cuộc khủng hoảng diễn ra trong ngành chế tác thuộc về thế kỷ 20 thì con số không phải là một, mà có tới hai cuộc khủng hoảng lớn. Chính xác khủng hoảng nổ ra vào thời điểm không ai ngờ đến nhất - năm 1974, khi ngành công nghiệp đang trong thời kỳ đỉnh cao, sản lượng đồng hồ của cả ngành công nghiệp là 84 triệu đồng hồ mỗi năm. Cũng chính lúc này trên thế giới diễn ra một là cơn càn quét của đồng hồ quartz, hai là khủng hoảng dầu mỏ. Nhưng đó không thể phá hủy cả nền công nghiệp đồng hồ. Điều đáng nhắc đến là đồng hồ Thụy Sĩ trở nên đắt khủng khiếp, cao hơn rất nhiều giá trị mà người mua có thể nhận được.

Một giai đoạn khủng hoảng

Người Thụy Sĩ vẫn khá thiếu hiểu biết về công nghệ đồng hồ quartz và kéo theo đó là người Thụy Sĩ đã phản ứng khá muộn trước cơn càn quét trước cơn tấn công của các công ty đến tư Nhật Bản. Và dĩ nhiên, các công ty Thụy Sỹ cạnh tranh được với các đợt giảm giá do đối thủ châu Á thực hiện. Công bằng mà nói, cần phải lưu ý rằng ETA đã tham gia vào sản xuất bộ máy quartz. ETA thậm chí còn chế tạo ra chiếc đồng hồ quartz mỏng nhất thời bấy giờ, được gọi là Delirium. Được công bố vào năm 1978, Delirium là một chiếc đồng hồ có độ dày chỉ 1.98mm - một thành tích thực sự đáng kinh ngạc! Điều cho phép họ tạo ra một chiếc đồng hồ đeo tay mỏng đến mức phi thường chính là việc bỏ qua tấm khung chính và đặt các bộ phận của bộ máy lên chính bộ vỏ.

Nhưng không có sự phát triển công nghệ nào có thể đủ mạnh để khắc phục ảnh hưởng của “vấn đề” tiếp theo mà họ phải đối mặt. Năm 1973-1974, cuộc khủng hoảng dầu mỏ đầu tiên nổ ra, kéo theo là một cuộc suy thoái kinh tế, dẫn đến việc đồng franc Thụy Sĩ tăng giá mạnh so với các đồng tiền khác. Điều này đã làm cho đồng hồ Thụy Sĩ xuất khẩu trở nên đắt hơn năm này qua năm khác và điều này. Tình trạng này thậm chí đã kéo dài trong gần một thập kỷ. Về bản chất, người Thụy Sĩ chỉ mất tất cả các thị trường của họ trước các đối thủ châu Á vì hai lý do chính. Đầu tiên, sự tăng giá của đồng franc đã làm cho những chiếc đồng hồ xuất khẩu của họ trở nên đắt hơn bao giờ hết ở nước ngoài. Thứ hai, công nghệ cần thiết để giảm đáng kể chi phí sản xuất đã không được phát triển đủ sớm. Bất kỳ một trường hợp nào trong số đó cũng đủ khiến đồng hồ Thụy Sĩ trở nên “kém giá trị” so với những trường hợp khác.

ETA-Delirium

Đồng hồ ETA Delirium mỏng nhất 1978

ETA (Concord) Delirium là chiếc đồng hồ đeo tay mỏng nhất vào thời điểm đó với chỉ 1,98 mm

 

 

Trước khi tiếp tục, chúng ta hãy xem một số thống kê cơ bản để chúng ta có thể hiểu được quy mô vấn đề mà người Thụy Sĩ phải đối mặt. Sản lượng hơn 80 triệu chiếc đồng hồ mỗi năm giảm xuống chỉ còn 30 triệu chiếc trong vòng chưa đầy 10 năm. Thị phần của đồng hồ Thụy Sĩ trên toàn thế giới đã giảm từ hơn 80% vào năm 1970 xuống còn 58% vào năm 1975, và tất cả chỉ còn không quá 15% vào năm 1983! Điều này chắc chắn dẫn đến sự sụt giảm mạnh không ngừng về việc làm, từ 89.000 lao động vào năm 1970 xuống mức thấp đáng kinh ngạc 33.000 lao động vào năm 1985. Cần phải có ngay các biện pháp đối phó, các tập đoàn lớn cần phải tiến hành điều chỉnh.

(Còn tiếp)

đồng hồ chính hãng

Thuê banner
Bình luận

XEM THÊM


loading