Ian Brodie Rated 3 / 5 based on 5 reviews

Lịch sử về nhà chế tạo bộ máy đồng hồ hàng đầu Thụy Sỹ - ETA (Phần 2)

0
comments
4 tuần trước

Trong phần trước, Watchbook.vn - Từ điển đồng hồ đã để bạn đọc hiểu về quá trinh hình thành ETA là do khó khăn. Và sau đó, ETA tiếp tục trải qua một giai đoạn khủng hoảng tiếp tục. Vậy làm thể nào để ETA bước tiếp?

Diễn đàn Từ điển đồng hồ

 ETA và The Swatch Group

Câu chuyện về ETA  đơn độc sắp kết thúc - hay đúng hơn là một khởi đầu mới - với một loạt vụ sáp nhập vào năm 1982-1984.

Vào thời điểm này, khoản lỗ lũy kế của ASUAG đã vượt quá 150 triệu franc Thụy Sĩ, và SSIH đang trên bờ vực sụp đổ với số lượng đồng hồ bán được giảm từ 12,4 triệu (1974) xuống 1,9 triệu đồng hồ (1982). Tất cả những điều này đòi hỏi động thái cần thiết từ những cái đầu nhạy bén. Ébauches SA quyết định chuyển tất cả các công ty sản xuất bộ máy ébauches của ASUAG sang ETA SA, mặc dù thực tế, các cuộc đàm phán về việc sáp nhập giữa ASUAG và SSIH đã được tiến hành. Kết quả là, đột nhiên, ETA SA bao gồm tất cả các nhà sản xuất lớn và nhỏ đã từng tham gia ASUAG và do đó nó trở thành “tập đoàn lớn” chứa đựng những bí kíp sản xuất đồng hồ đa dạng có giá trị hàng trăm năm. Năm 1983, hai gã khổng lồ, ASUAG và SSIH cuối cùng cũng hợp lực, và lần đầu tiên công ty tạo ra lãi vào năm 1984.

Tuy nhiên, điều đó đã không làm thỏa mãn các ngân hàng đã bỏ vốn trong thời điểm suy sụp này. Các ngân hàng UBS, Credit Suisse và Swiss Bank Corporation đã rót hơn 900 triệu franc vào ASUAG và SSIH chỉ để duy trì hoạt động của hai công ty. Hiện tại, các ngân hàng có mọi lý do để coi ngành công nghiệp đồng hồ Thụy Sĩ sắp tiêu vong và vấn đề chỉ được giải quyết khi người Nhật hào phóng với cả ASUAG và SSIH.

Nếu người Nhật mua được hai tập đoàn lớn này, họ sẽ sở hữu gần như tất cả các nhà sản xuất, bằng sáng chế và thương hiệu lớn của Thụy Sĩ. Nhưng đó đâu phải mối bận tâm của các ngân hàng, ngân hàng cần tiền về. Và đó là lý do, các ngân hàng tìm đến công ty tư vấn uy tín có tên là Hayek Engineering AG để có thể tiến hành việc bán đi các công ty mà ngân hàng đang cho vay vốn. Tuy nhiên, lúc này, vị chủ tịch của Hayek Engineering AG, Nicolas G. Hayek cảm thấy bị xúc phạm khi các công ty đồng hồ Thụy Sỹ lại bị đem bán, mà lại dưới thời nắm quyền của ông. "Chỉ sau khi tôi chết!" - Đó chính là tuyên bố hào hùng của người đàn ông Nicolas G. Hayek.

 

Dr-Nicolas-G-Hayek

 Nicolas G. Hayek

Vậy phải làm thế nào để giải quyết tình hình khó khăn. Nicolas G. Hayek quyết định đáp trả. Tuy nhiên, ông không lựa chọn giải quyết ở những chiếc đồng hồ cao cấp, Nicolas G. Hayek tìm đến ý tưởng mới, ở một thứ gì đó rẻ, đơn giản, vui nhộn và mang tính Swiss Made - Đồng hồ Swatch được ra mắt vào năm 1983, và giá bán của nó chỉ dưới 50 đô la. Tiếp theo đó sẽ là sự xuất hiện của đồng hồ Swatch chạy máy quartz - nhưng vẫn phải đẹp, có cá tính riêng.

Khi nhắc tới Swatch, nó sẽ không thể tồn tại nếu không có hai cái tên đóng góp quan trong, hai kỹ sư nòng cốt thuộc công ty ETA: Elmar Mock và Jacques Müller. Bộ máy quartz trong đồng hồ Swatch dựa trên cấu trúc bộ máy đã được phát triển cho chiếc đồng hồ quartz siêu mỏng Delirium năm 1978: các bộ phận được lắp trên mặt sau của đồng hồ chứ không phải trên đĩa chính.

Công ty Swatch cũng đã cố gắng giảm số lượng các linh kiện từ khoảng 150 linh kiện (như các đối thủ cạnh tranh Nhật Bản đã làm) xuống chỉ còn 51 linh kiện, do đó giảm thêm chi phí sản xuất. Ngay lập tức, đồng hồ Swatch bắt đầu thu được lợi nhuận kếch xù với doanh số bán hàng tăng vọt từ 1,1 triệu chiếc trong năm đầu tiên lên đến chiếc thứ 100 triệu được bán trong vòng chưa đầy 10 năm, vào năm 1992. Năm 1985, Hayek đã mua lại 51% cổ phần của bộ đôi ASUAG-SSIH và thành lập Swiss Corporation for Microelectronics and Watchmaking Industries Ltd. (SMH) (Công ty TNHH Công nghiệp Vi điện tử và Đồng hồ Thụy Sĩ)- được đổi tên vào năm 1998 thành Swatch Group Ltd.

Đến giờ, chúng ta đã nắm được cơ bản về cách thức hoạt động của ETA và những khó khăn đáng kinh ngạc mà ETA phải đối mặt. Nhưng để có được bức tranh hoàn chỉnh về khả năng sản xuất của công ty này, chúng ta không thể dừng lại ở đây. Thay vào đó, chúng ta nên tiếp tục và khám phá vị trí của công ty trong ba thập kỷ qua, trong bức tranh của cả nền công nghiệp đồng hồ Thụy Sỹ. Làm thế nào để ETA chính thức đã trở thành kẻ thống trị trong ngành chế tác?

Swiss-Watch-Industry-Statistics-Export-Figures-1986-2012-JPG

Số liệu xuất khẩu của ngành công nghiệp đồng hồ Thụy Sĩ 1986-2012. Dựa trên dữ liệu từ thống kê của Fédération de l'industrie Horlogère Suisse, fhs.ch 

Vào khoảng giữa những năm 1980, giải pháp khôi phục ngành công nghiệp đồng hồ đã xuất hiện như bên trên chúng tôi đã đề cập đến. Thực tế, đến năm 1986, ngành đồng hồ tại Thụy Sỹ lại có những bước đi rất riêng, một quỹ đạo rất khác. Biểu đồ bên trên cho thấy sức hoạt động củaTổng quan về thương hiệu Omega ngành công nghiệp kể từ năm 1986 đến 2012 (lấy từ báo cáo của Liên đoàn Công nghiệp Đồng hồ Thụy Sĩ (FH)). Màu xanh lam thể hiện tổng giá trị xuất khẩu đồng hồ (tính bằng triệu franc), cho thấy mức tăng trưởng vững chắc với xuất khẩu tăng gần gấp đôi từ năm 1986 đến năm 94.

Đây thực sự là một kết quả ấm lòng, nhưng nó sẽ không thể thực hiện được nếu không có một số kế hoạch chiến lược nghiêm túc đang âm thầm diễn ra phía sau. Chúng ta đã thấy rằng bất cứ khi nào ngành công nghiệp đồng hồ gặp khủng hoảng, phương án được đề xuất là cố gắng giảm chi phí thông qua tập trung hóa và hợp lý hóa sản xuất. Giải pháp lần này cũng không khác là bao.

Như chúng ta đã biết, từ năm 1985 trở đi không còn hai cái tên ASUAG hay SSIH nữa - tất cả đều được thống nhất trong nhóm SMH dưới sự lãnh đạo của Nicolas Hayek. Do đó, ETA bây giờ cũng thuộc về SMH, nhưng ETA không chấm dứt cuộc sống của mình. SMH tiếp quản nhưng vẫn để ETA được hoạt động riêng, không can thiệp sâu, thậm chí ETA còn được ưu ái phát triển mạnh mẽ hơn

Trên thực tế, một số thương hiệu có tiếng trong SMH (chẳng hạn như Longines, Omega và những người khác) phải dừng hoàn toàn hoặc ít nhất là cắt giảm đáng kể sản xuất các bộ máy độc quyền của chính mình và thay vào đó sử dụng các bộ máy được cung cấp từ ETA. Ưu điểm của điều này là các công ty có thể tiết kiệm được một khoản tiền lớn, dành cho các hoạt động quảng cáo sản phẩm hiệu quả.

Điều đó không có nghĩa là Nicolas Hayek và SMH muốn ngừng đầu tư vào sản xuất các bộ máy chất lượng. Ngược lại: họ quyết định dành hầu hết các nguồn lực sẵn có của mình cho một công ty duy nhất thay vì tạo điều kiện cho một vài thương hiệu đơn lẻ tự phát triển. Về cơ bản, SMG đã đầu tư rất nhiều vào việc mở rộng ETA. Điều này chủ yếu xảy ra bằng cách thành lập hoặc mua một số nhà sản xuất chuyên biệt. Trong một vài năm, nhóm đã tiếp quản các nhà sản xuất bộ máy nguyên, linh kiện, nhà sản xuất mặt số, vỏ và núm vặn cũng như các nhà lắp ráp để làm cho ETA linh hoạt nhất có thể.

Nivarox-Inside-Nivarox-Article-Picture

Trụ sở chính của Nivarox-FAR 

Nhà cung cấp cho toàn bộ ngành công nghiệp đồng hồ

Điều này đưa ETA lên một con đường mới, một con đường dẫn nó trở thành “nhà sản xuất mạnh nhất trong ngành công nghiệp đồng hồ Thụy Sĩ”. Nhưng chuyển đổi không hề diễn ra trong ngày một ngày hai.

Là một phần của chiến lược đầu tư lớn đã đề cập trước đây của SMH, tập đoàn này đã tập hợp các nhà sản xuất linh kiện và bộ máy đồng hồ như Régis Mainier SA (1987), Marc Vuilleumier (1990), Pforzheimer Uhrenwerke PORTA GmbH (1990) và Frésard Composants SA (1991) dưới mái nhà của ETA. Còn với những nhà sản xuất khác như vỏ, mặt số và nín vặn đồng hồ. Nhưng có lẽ không một công ty trong số này đóng vai trò quan trọng hơn Nivarox-FAR - công ty con thuộc quyền sở hữu của ETA.

Nivarox SA và Fabriques d'Assortiments Réunis (FAR) là hai công ty riêng biệt và cả hai đều là một phần của ASUAG. Hai công ty kể trên hợp nhất để trở thành Nivarox-FAR vào năm 1984. Nivarox tập trung vào sản xuất dây tóc đồng hồ - điều cho đến tận bây giờ vẫn được duy trì.

Về bản chất, Nivarox là công ty duy nhất trong ngành chế tạo đồng hồ Thụy Sĩ có thể vượt qua tất cả những khó khăn để cung cấp dây tóc với quy mô sản xuất hàng loạt. Hơn nữa, Nivarox còn cung cấp bánh xe cân bằng, neo, pallet, bộ thoát, dây tóc và các linh kiện nhỏ bé khác như ốc vít và bánh răng nhỏ.

Cụ thể, tập đoàn đã chi số tiền lớn để mua hoặc tạo các công ty con chuyên biệt cho ETA, đảm bảo cho ETA có thể đứng vững trong hầu hết các lĩnh vực chế tạo đồng hồ. Thông qua các công ty này, tập đoàn cũng tài trợ cho việc nghiên cứu và phát triển các linh kiện chủ chốt. Cùng với những ưu tiên từ tập đoàn mẹ, Nivarox-FAR đã phát triển khả năng vô song trong việc sản xuất hàng loạt các thành phần cực kỳ tinh vi và phức tạp.

Vì vậy, mặc dù có những thương hiệu đầu tư vào sản xuất các bộ máy in-house độc quyền, gần như tất cả các nhà sản xuất đều phải mua một số thành phần từ Nivarox để sử dụng trong các bộ máy của riêng mình. Chỉ có một số rất nhỏ các nhà sản xuất có thể tạo ra dây tóc và những linh kiện có chất lượng đủ tốt. 

Kết quả của tất cả những điều này là gì? ETA trở thành nhà cung cấp bộ máy duy nhất cho tất cả các thương hiệu của Swatch Group cũng như cho hầu hết các thương hiệu khác trong ngành. Sự thống trị của ETA chưa bao giờ mạnh như vậy, và với COMCO, đó chính là một nguy cơ, điều mà chúng ta có thời gian sẽ bàn tới sau.

Swatch-Gross-Sales-Net-Profit-1983-2012-JPEG2

Swatch Tổng doanh thu Lợi nhuận ròng 1983-2012. Dựa trên dữ liệu từ báo cáo thường niên của Swatch Group, swatchgroup.com 

Để minh họa tầm ảnh hưởng cũng như tiềm lực của ETA, vài báo cáo thường niên của Swatch Group đã được sử dụng. Biểu đồ trên cho thấy tập đoàn đã vận hành như thế nào từ năm 1983 đến 2012, tổng doanh thu tính bằng hàng triệu franc Thụy Sĩ (màu xanh lam) và lợi nhuận ròng (màu đỏ). Những gì chúng ta thấy là một sự tăng trưởng đáng kinh ngạc trong suốt nhiều năm với sự sụt giảm tương đối nhỏ. 

Năm 2001, ngành công nghiệp đồng hồ Thụy Sĩ đã xuất khẩu đồng hồ trị giá 10,517 tỷ franc Thụy Sĩ theo dữ liệu từ Liên đoàn Công nghiệp Đồng hồ Thụy Sĩ FH. Trong cùng năm đó, tổng doanh thu bán đồng hồ hoàn chỉnh của Swatch Group chiếm 3,034 tỷ franc Thụy Sĩ (đây là tất cả những chiếc đồng hồ được sản xuất bởi tất cả các thương hiệu trong Swatch Group). Đơn vị sản xuất của tập đoàn (ETA và tất cả các công ty con) đạt doanh thu gần 1,392 tỷ franc (theo báo cáo thường niên của Swatch). Điều này có nghĩa là sản lượng của ETA đã hơn 10% giá trị xuất khẩu tích lũy của ngành! Và vì Thụy Sĩ là một thị trường không đáng kể so với tất cả các thị trường khác, chúng ta có thể nói rằng giá trị sản lượng của ETA chỉ bằng một phần mười của toàn ngành. Đây, không nghi ngờ gì, là một hiệu suất đáng kinh ngạc.

Đây là một ví dụ để giải thích thực tế hơn về những con số đáng kinh ngạc này. Nếu một công ty mua một bộ máy ébauche với giá 100 franc thì công ty đó phải hoàn thành việc chế tạo bộ máy, tự sản xuất hoặc mua vỏ, mặt số, dây đeo, chi tiêu cho tiếp thị, phát triển và duy trì hệ thống phân phối, tài trợ cho nghiên cứu và phát triển - và danh sách tiếp tục và hơn thế nữa. Vấn đề là tất cả các khoản chi phí này phải được khấu hao và do đó được cộng vào chi phí khi mua một bộ máy trống. Cuối cùng thì tất cả các chi phí này và tỷ suất lợi nhuận của công ty sẽ định giá xuất khẩu của một chiếc đồng hồ thành phẩm. Chuyển từ bộ máy ébauche 100 franc sang một chiếc đồng hồ có giá xuất khẩu 1000 franc thật dễ dàng!

Do đó ETA đã bán các bộ phận, ébauches và bộ máy trị giá 0,767 tỷ franc cho các công ty không thuộc Swatch. Các công ty này sau đó đã xuất khẩu số đồng hồ trị giá 7,5 tỷ franc. Điều này vẫn mang lại cho chúng ta mức 10% đã đề cập trước đây, và xem xét tất cả các chi phí khác nhau mà chúng ta vừa đề cập ở trên, có thể nói rằng trong cuối những năm 90 và đầu những năm 2000, toàn bộ ngành công nghiệp phụ thuộc ít nhiều vào cái tên ETA.

đồng hồ chính hãng

Thuê banner
Bình luận

XEM THÊM


loading