Ian Brodie Rated 3 / 5 based on 5 reviews

7 tượng đài của nhà sản xuất Omega

0
comments
2 năm trước

(Watchbook.vn) - Có hàng tá những mẫu đồng hồ biểu tượng cùng nhiều sự cải tiến đáng để về mặt kỹ thuật như là bộ thoát đồng trục (co-axial escapement) hay là những bộ máy đồng hồ kháng từ đầu tiên,…chứng minh cho: Omega là một trong những thương hiệu cốt lõi hàng đầu của ngành công nghiệp chế tác đồng hồ Thụy Sỹ.

Diễn đàn Từ điển đồng hồ

Kể từ khi thành lập, lịch sử của thương hiệu Omega luôn gắn với nhiều chiếc đồng hồ vừa thú vị lại độc đáo. Bên cạnh dòng đồng hồ nổi tiếng SpeedmasterSeamaster, chúng ta còn nhiều mẫu đồng hồ khác được xem là mốc son lớn lao cho nhà sản xuất này.

Có hàng tá những mẫu đồng hồ biểu tượng cùng nhiều sự cải tiến đáng để về mặt kỹ thật như là bộ thoát đồng trục (co-axial escapement) hay là những bộ máy đồng hồ kháng từ đầu tiên,…Tất cả đều chứng minh cho một nhận định: Omega là một trong những thương hiệu cốt lõi hàng đầu của ngành công nghiệp chế tác đồng hồ Thụy Sỹ.

Trong bài viết này, hãy cùng Từ điển đồng hồ tìm hiểu 7 biểu tượng nổi bật xuyên suốt lịch sử hơn 200 năm của nhà sản xuất đồng hồ Omega!

Chiếc đồng hồ đeo tay điểm chuông đầu tiên – 1892

Vào tháng 12/1892, chiếc đồng hồ đeo tay điểm chuông đầu tiên đã ra đời tại Bienne, trong một công ty chế tác đồng hồ của Louis Brandt & Frère, tiền thân của nhà sản xuất Omega ngày nay. Louis Brandt đã lựa chọn Audemars Piguet để điều chỉnh bộ máy 13 ligne Lépine mà Audermars đã mua lại từ nhà chuyên chế tác bộ máy LeCoultre & Cie. Bộ vỏ khung phức tạp của chiếc đồng hồ đeo tay này khá giống với một chiếc đồng hồ bỏ túi.

Omega 1-Minute-repeater - tudiendongho

 Chiếc đồng hồ điểm chuông đầu tiên của "Omega" được chế tạo đầu tiên năm 1892

Chiếc đồng hồ đeo tay OMEGA đầu tiên – 1900

Những chiếc đồng hồ có dán nhãn Omega đầu tiên được sản xuất trong năm 1900 và được sử dụng bởi những sĩ quan Anh trong Chiến tranh Boer (1899 -1903). Omega là một trong những công ty đầu tiên bắt đầu việc sản xuất hàng loạt đồng hồ đeo tay.

Thực tế, những chiếc đồng hồ này đã phải hứng chịu khá nhiều gian khổ. Một bài quảng cáo của Omega trên một tạp chí đồng hồ tại Leipzig năm 1904, đã tiết lộ lời nói của một sĩ quan pháo binh rằng anh ta đã đeo đồng hồ Omega để thực hiện nhiệm vụ ngay cả khi trời lạnh cắt da cắt thịt, nắng cháy da, mưa tầm tã hay cả trong những cơn bão cát cuồn cuộn.

Đặc biệt, vị trung sĩ đã đúc kết lại rằng: “Đồng hồ đeo tay là một vật dụng cần thiêt trong mọi chiến dịch”. Những chiếc đồng hồ đeo tay Omega thời điểm này được trang bị bộ máy HN B Lépine với hai phiên bản: núm chỉnh giờ nằm ở bên phải để đeo đồng hồ tay trái, và núm chỉnh giờ ở bên trái cho người đeo đồng hồ trên tay phải.

Omega 2-1st-wristwatch tudiendongho

 Những chiếc đồng hồ đeo tay Omega đầu tiên được sản xuất để phục vụ quân đội

Chiếc đồng hồ Omega Seamaster – 1948

René Bannwart được xem là cha đẻ của dòng đồng hồ Omega Seamaster. Ông cũng chính là người thành lập nên thương hiệu Corum và bắt đầu gây dựng ban thiết kế của Omega trong năm 1940. Đây là một điểm mới. Tại thời điểm đó, việc phác họa những mẫu đồng hồ mới thường được tiến hành bởi người thiết kế trong nhà máy sản xuất bộ khung của đồng hồ. Thì quyết định của René Bannwart đó là ông vẽ ra một con đường riêng cho Omega.

Để ăn mừng kỉ niệm năm thứ 100 thành lập, Giám đốc kinh doanh của Omega - Adolphe Vallat đã nhắn gửi đến René Bannwar hãy thiết kế một chiếc đồng hồ thể thao, khỏe khoắn và chống được nước. Kết quả của quá trình nghiên cứu chính là sự xuất hiện của dòng đồng hồ Seamaster.

Lấy nguồn gốc từ những chiếc đồng hồ được cung cấp cho Không quân Hoàng gia Anh trong Thế chiến thứ Hai, mẫu đồng hồ thí điểm năm 1948 có bộ vỏ khung chống nước, nắp lưng xoáy vít với gioăng cao su, mặt kính được gia cố chắc chắn, mặt số màu bạc cùng những con số Ảrập dược đánh bóng.

Phiên bản có bộ kim nhỏ, đã được chứng nhận “Certified chronometer”, được trang bị bộ máy tự động Caliber 28.10 RA RG-343. Còn mẫu gồm một kim giây trung tâm mảnh sử dụng bộ máy 28.10 RA SC-350.

Hiện nay, Seamaster là một trong những dòng đồng hồ quan trọng nhất của Omega: từ những chiếc chronograph 1970 hơi hướng cổ điển, đến những chiếc đồng hồ lặn chuyên nghiệp, và cả những phiên bản làm lại mang nét cổ điển nữa. Tất cả những tiến bộ đều được Omega gói gọn vào dòng đồng hồ này.

Omega 2-Seamaster-1948 - tudiendongho

 Chiếc Omega Seamaster đầu tiên được sản xuất năm 1948

Chiếc Omega Constellation – 1952

Omega bắt đầu sử dụng cái tên “Constellation” vào năm 1952 để gọi những chiếc đồng hồ đeo tay có chứng nhận chronometer chính thức. Phiên bản sớm nhất sử dụng bộ máy Caliber 28.10 RA SC PC RG AM (gọi ngắn lại là “352”), xuất hiện lần đầu vào năm 1945.

Bộ máy 352 có khả năng tự động lên cót, gồm một kim giây trung tâm, có đường kính 28,1mm và dày 5,4 mm. Hơn nữa, bộ máy này đã trải qua được kì thử nghiệm tính chính xác chronometer. Với độ bền bỉ, chắc chắn, khả năng vận hành chính xác, Omega đã quyết định sản xuất những chiếc Constellation trong số lượng lớn. Đây được xem là chiếc đồng hồ đeo tay đạt chuẩn chronometer đầu tiên mà Omega sản xuất.

Omega 4-Constellation-tudiendongho

 Omega Constellation là chiếc đồng hồ đầu tiên đạt chuẩn Chronometer mà Omega sản xuất

Đồng hồ Omega Speedmaster – 1957

Omega Speedmaster được giới thiện năm 1957 chính xác là chiếc chronograph nổi tiếng nhất trên thế giới vì được NASA sử dụng trong suốt nhiệm vụ Apollo. Thực tế câu chuyện về Speedmaster thực sự bắt đầu từ năm 1943 với cỗ máy Caliber 27 CHRO C12, được phát triển bởi Jacques Reymond.

Chữ CHRO trong cái tên Caliber 27 CHRO C12 đại diện cho tính năng “chronograph”, con số 27 đề cập đến đường kính 27mm, còn “C12” ám chỉ bộ đếm phụ có quy mô 12 giờ. Hơn nữa, bộ máy này còn được phát triển thêm bởi Albert Piguet vào năm 1946 và được Omega rút ngắn tên gọi là “321”. Tại thời điểm đó, 321 là bộ máy nhỏ nhất trong cùng loại.

Chiếc Speedmaster đầu tiên có mặt số màu đen, bộ kim phủ chất phát quang, thước đo tachymeter, bộ vỏ khung chống nước, lớp kính Plexiglas vòm và nắp lưng xoắn vít. Đường kính chiếc đầu tiên chỉ là 39mm còn một phiên bản có đường kính 40mm xuất hiện năm 1960 với thang đo tachymeter trên nền bezel đen.

Omega-Speedmaster-tudiendongho

Omega Speedmaster sản xuất năm 1957 được xem là bộ sưu tập biểu tượng của Omega 

Omega De Ville – 1967

Trước khi được tách ra thành thành bộ sưu tập độc lập vào năm 1967, De Ville vẫn nằm trong bộ sưu tập Seamaster từ năm 1960. Xuất hiện với vẻ ngoài đơn giản hơn, trẻ trung hơn, nhiều sắc màu hơn và đa dạng hơn những chiếc Seamaster đã từng sản xuất, De Ville đã nhanh chóng trở thành bộ sưu tập bán chạy nhất của Omega.

Cái tên De Ville đại diện cho triết lý sáng tạo của Omege về sự yên bình của vùng đồng quê, bởi vì chiếc De Ville đầu tiên được chế tác ở trung tâm chế tác Geneva, mà không phải ở trụ sở chính của Omega, tại Bienne.

Trong thiết kế của De Ville, đã có vài yếu tố hiện đại được lồng ghép trong đó. Có thể kể đến bộ sưu tập De Ville gồm nhiều mẫu hình chữ nhật sở hữu bộ máy lên cót tay Caliber 620 siêu mỏng. Và dĩ nhiên, sự kết hợp hoàn hảo giữa nét đẹp hiện đại với những cỗ máy thời gian đã dần trở khẳng định tính đúng đắn trong quyết định của Omega. Omega De Ville đã giành 6 “Bông hồng vàng” tại hạng mục thiết kế Baden-Baden năm 1970 cũng như  giải thường Grand Prix Triomphe de l’Excellence Européenne danh giá trong giới chế tác đồng hồ.

Còn hiện nay, những phiên bản Omega De Ville vẫn luôn giữ được tinh thần của những thiết kế trang nhã và trường tồn với thời gian, như mẫu Omega DeVille Hour Vision đã làm.

Omega-Deville-tudiendongho

 Cái tên De Ville đại diện cho triết lý sáng tạo của Omege về sự yên bình của vùng đồng quê

Bộ thoát Co-Axial – 1999

Chiếc đồng hồ Omega De Ville Co-Axial được trang bị bộ máy tự động Caliber 2500 là chiếc đồng hồ đeo tay đầu tiên sử dụng bộ thoát co-axial. Bộ thoát co-axial được phát minh bởi người thợ làm đồng hồ George Daniels, đến từ nước Anh. Nhưng Omega đã phát triển thiết kế này từ Daniels để nó có thể được sản xuất trong số lượng lớn.

Caliber 2500 là một bộ máy tự động lên cót đã được điều chỉnh từ ETA – công ty cùng tập đoàn với Omega. Cơ chế bộ thoát co-axial đã giải quyết được hai vấn đề tiềm tàng cho tính chính xác của mọi cỗ máy thời gian. Thứ nhất, sự thay đổi của dầu bôi trơn sẽ làm giảm tính chính xác của đồng hồ. Thứ hai, qua thời gian, dầu bôi trơn sẽ dần dần biến mất.

Do đó, Daniels đã sửa đổi một vài yếu tố để giảm ma sát cũng như sự ảnh hưởng của dầu bôi trơn đến biên độ của bánh xe cân bằng. Không giống với những bộ thoát thường gặp, bộ thoát co-axial gồm một bánh xe ở giữa, một bánh xe đồng trục và một con ngựa (lever) có 3 chân kính phiến. Con ngựa sẽ chỉ hoạt động khi bánh xe cân bằng quay ngược chiều kim đồng hồ.

Để khai thác triệt để những ưu điểm của bộ thoát co-axial, bộ máy Caliber 2500 gồm 27 chân kính, một bánh xe Glycydur, gõ nhịp tại tần số 28.800vph. Bộ thoát co-axial này đã xuất hiện trong một chiếc De Ville với khung tròn quen thuộc.

Omega-chronometer-co-axial tudiendongho

 Bộ thoát co-axial này đã xuất hiện trong một chiếc De Ville với khung tròn quen thuộc.

Thực tế, câu chuyện lịch sử về đồng hồ Omega vẫn còn tiếp tục tiếp diễn với nhiều đột phá hơn, với bộ máy kháng từ hoàn hảo, lên tới 15.000 Gauss đã và đang được Omega nghiên cứu. Hãy cùng Từ điển đồng hồ chờ đón cải tiến đó!

đồng hồ chính hãng

Bình luận

XEM THÊM


loading